lichsuviet.blogspot.com
Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2020
Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018
Thứ Ba, 24 tháng 7, 2018
Kính thưa quý vị,
Trước hết tôi xin chân thành cám ơn toàn thể quý vị đã bớt chút thì giờ quý báu để đến đây tham dự buổi vinh danh, cám ơn những người đã có công khai sinh ra lối chữ viết theo a,b,c mà chúng ta gọi là chữ Quốc ngữ ngày hôm nay. Thưa quý vị, không phải tới ngày hôm nay chúng ta mới vinh danh Linh mục Alexandre De Rhodes trước đây gọi là Linh mục A Lịch Sơn Đắc Lộ mà năm 1941, chính quyền thực dân bảo hộ đã khắc một tấm bia đặt ở bên bờ Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội và năm 1955, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã đặt tên Alexandre De Rhodes cho một con đường ở thành phố Sài Gòn. Sau này, tại Sài Gòn chúng ta cũng có một Thư viện và một Cư xá lấy tên là Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes).
Thế nhưng, vấn đề chữ quốc ngữ ngày nay lại trở nên ý nghĩa và quan trọng hơn khi mới đây tập đoàn Việt gian Cộng sản bất nhân hại dân bán nước chính thức bắt các em học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 phải học tiếng Tàu, sinh ngữ chính trong năm học tới, đồng thời tung ra đề án cải cách tiếng Việt, sửa đổi cách viết và phát âm lơ lớ tiếng Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng năm xưa để xóa bỏ chữ Quốc ngữ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải trân trọng bảo tồn chữ Quốc ngữ, cũng như tri ân nhưng người có công tạo ra lối chữ Việt viết theo a,b,c mà chúng ta thường nói là La Tinh hóa chữ viết.
Thưa quý vị, trong quá khứ chúng ta đã vinh danh Linh mục Alexandre de Rhodes là “Thủy Tổ” của chữ Quốc ngữ như những bài viết ca ngợi thái quá của một số học giả trước đây. Ngày nay, sự thật về sự khai sinh lối chữ Quốc nữ khiến chúng ta phải phục hồi sự thật lịch sử về vấn đề này. Sự thật này đã được Linh mục Alexandre de Rhodes viết trong “Lời nói đầu” quyển Tự điển Việt – Bồ – La rằng linh mục học tiếng Việt lúc đầu với giáo sĩ Francisco de Pina và linh mục đã sử dụng các công trình tự điển viết tay An Nam – Bồ, Bồ – An Nam của các giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa… Chính giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã xác nhận không phải là người duy nhất đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ mà đó là công trình tập thể của các nhà truyền giáo khác như giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa… nằm trong một khuôn khổ những nỗ lực phiên âm các thứ tiếng có chữ tượng hình ở Viễn Đông do các thừa sai châu Âu khởi xướng từ thế kỷ thứ 16. Công trình khai sinh ra lối chữ Quốc ngữ lần đầu tiên chính là Giáo sĩ người Bồ Đào Nha F. De Pina, đến “Đàng Trong” năm 1617 học tiếng Việt và là nhà truyền giáo đầu tiên dùng tiếng Việt để truyền đạo. Năm 1624, giáo sĩ F. De Pina dạy tiếng Việt cho giáo sĩ Alexandre De Rhodes, năm 1625 giáo sĩ bị chết đuối ở vũng Đà Nẵng ngày 15-12-1625 khi cứu hành khách trên một chiếc thuyền bị đắm. Nhà nghiên cứu R. Jacques mới tìm thấy ở Thư viện Quốc gia tại Lisbon (Bồ Đào Nha) quyển sách “Nhập môn tiếng Đàng Ngoài” dài 22 trang dạy cho người mới học tiếng Việt của giáo sĩ F. de Pina.
Chính giáo sĩ Alexandre De Rhodes đã xác nhận “Tuy nhiên trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và Đông-kinh (tức Đàng Trong và Đàng Ngoài – AC), thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa (Chúng tôi nhấn mạnh – AC), cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam (tức là từ điển Việt-Bồ – AC), ông sau bằng tiếng Bồ-Đào (tức là từ điển Bồ-Việt – AC), nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La Tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn…”.
“(…) ước gì các Ngài trở nên những người truyền bá nhiều phương ngữ, để không những các nước lân cận và quen biết từ xưa được nghe những sự kỳ diệu của Thiên Chúa mà cả mọi miền dưới bầu trời và những vương quốc rất xa xôi ở cực Đông từ nhiều thế kỷ qua chưa được nghe, thì bây giờ những nước ấy cũng phải được nghe và rao truyền danh Chúa huyền diệu biết bao trên khắp trái đất (…). Mà lại để Lời Thiên Chúa thâm nhập dễ dàng hơn tới tận cùng Hoàn cầu, nơi người Đông- kinh và Cô-sinh, tức là tất cả mọi người An Nam đang chiếm cư, thì bây giờ lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển của dân tộc An Nam, một quyển từ điển giúp ích cho những người làm công tác Tông đồ được chỉ định cho phần vườn nho này của Chúa, hầu họ hiểu biết phương ngữ xa lạ của người An Nam, tức là để những mầu nhiệm Thiên Chúa được giãi bày cho người An Nam, đồng thời cũng để người An Nam vừa làm quen với chính Đức Tin Rô-ma và Tông đồ, vừa làm quen với phương ngữ Rô-ma và La-tinh. Ai mà không thấy việc đó trong tương lai có lợi là chừng nào cho công cuộc truyền bá đức tin của Chúa Ki-tô được rộng rãi và chắc chắn hơn”. [1]
Thật vậy, các bậc thức giả như Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Nguyễn Khắc Xuyên, Thanh Lãng, Đỗ Quang Chính, Võ Long Tê đều khẳng định chữ quốc ngữ là một công cuộc chung của nhiều người. Linh mục Đỗ Quang Chính nhận định: “Đắc-Lộ không phải là người Âu châu đầu tiên học tiếng Việt, cũng không phải người đầu tiên sáng tác chữ quốc ngữ, hơn nữa, vào năm 1636 Đắc-Lộ cũng không phải là người ghi chữ quốc ngữ đúng được như một số Linh mục Dòng tên Bồ Đào Nha ở Việt Nam thời đó. Thật ra, trong giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ, Đắc-Lộ chỉ góp một phần trong công việc quan trọng này, mà rõ rệt nhất là soạn sách chữ quốc ngữ và cho xuất bản đầu tiên”.[2] Linh mục Thanh Lãng, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam trước 1975 đã khẳng định: “Giáo sĩ Đắc Lộ không những không phải là ông tổ duy nhất của chữ quốc ngữ mà cũng không phải là một trong các ông tổ của chữ quốc ngữ… Sở dĩ Đắc Lộ về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều, có lẽ không phải vì ông đã có công kiện toàn chữ quốc ngữ cho bằng ông đã để lại hai quyển sách Từ điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày được coi như tài liệu duy nhất về chữ quốc ngữ”. Các Thừa Sai cũng đã Latinh hóa tiếng Thái, tiếng Tàu, tiếng Nhật… nhưng không thành công, duy chỉ có Việt Nam lối chữ Quốc Ngữ này trở nên phong phú, phổ biến rộng rãi nhờ những nho sĩ tân tòng trở thành “Thầy giảng” đã góp phần lớn trong việc hình thành và hoàn chỉnh từng bước một lối chữ Quốc ngữ mới lạ này để ngày nay trở thành chữ viết chính thức của nước ta.
Theo công trình nghiên cứu của học giả Nguyễn Đoàn Tuân thì Tiếng Việt, chữ Việt theo bản chữ đời Hùng để lại từ đời Thánh Tản Viên cho Cao Thông, đệ tử của Thánh Tản Viên. Sau này, Trịnh Bồng đã được bản chữ đó và chính bản chữ đó đã giúp cho thầy Raphael Quý dạy cho giáo sĩ F. De Pina và Alexandre de Rhodes để chuyển sang mẫu tự La tinh, là chữ Quốc Ngữ bây giờ. Giáo Sĩ Đắc Lộ ở trong Nam (Đàng Trong) nghe ở Thanh Hoá (Đàng Ngoài) còn có người biết tiếng Việt cổ nên đã ra địa phận Thanh Hoá gặp được thầy Raphael Quý là người có duyên còn giữ được bản chữ đời Hùng. Nhờ thiên phú có tài về ngôn ngữ nên cả hai đã cùng nhau hợp tác giải mã những dấu hiệu chữ mô tả âm thanh của đời Hùng theo chữ La Tinh để chúng ta có được lối chữ Quốc ngữ ngày nay. Như vậy, ông Tổ chữ Quốc ngữ là bản chữ đời vua Hùng theo lối tiêu âm mà ghép thành văn tự.
Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đoàn Tuân thì trong lịch sử ngôn ngữ chỉ có Việt tộc mới có chữ viết và tiếng nói ăn khớp với nhau được chứng minh bởi Đồ Phổ Trống Đồng. Thuở xa xưa, tộc Việt cư ngụ ở Trung nguyên nên tiếng Việt tổng hợp các ngữ vị và âm vị của 4 phương thiên hạ. Tiếng Việt và chữ Việt là hệ thống Tiêu âm là thiết âm tức là loại tiếng đánh vần được. Nhờ đó âm lại được mọi thứ tiếng của các nước nên ngữ vị và âm vị tiếng Việt hết sức phong phú nên chỉ ở Việt Nam trở thành chữ viết cho cả nước trong khi việc Latinh hóa chữ viết các nước Lào, Cambodia, Tàu, Nhật không thành công. Chính vì vậy, “Thủy Tổ” của chữ Quốc Ngữ chính là tiếng nói, chữ viết Việt Cổ từ thời vua Hùng của chúng ta.
Các giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Linh mục Alexandre De Rhodes cùng các thầy Raphael Quý, các thầy giảng Việt Nam Igesico Văn Tín, Bentô Thiện với những tác phẩm quốc ngữ xuất sắc được lưu lại từ năm 1659 là những người có công trong việc phiên âm, ký tự tiếng Việt cổ thành lối chữ viết và đánh vần theo a,b,c của chữ La Tinh để thành hình lối chữ Quốc ngữ ngày nay.
Thưa quý vị,
Thưa quý vị,
Thưa quý vị, kể từ khi lối chữ chữ viết theo abc do các Cố đạo truyền giáo xuất hiện đầu tiên trong bộ Từ Điển An Nam-Bồ Đào Nha-Latinh gọi tắt là Tự điển Việt-Bồ-La mục “Phép giảng tám ngày” được tòa Thánh La Mã xuất bản năm 1651 và nhà cầm quyền Thực dân Pháp bắt buộc người dân Việt Nam phải học đã gặp phải sự chống đối quyết liệt của giới sĩ phu và toàn thể người Việt Nam yêu nước thời bấy giờ. Kể từ khi thành hình cho đến khi được mọi người Việt Nam thừa nhận là chữ Quốc Ngữ, chữ viết của Việt Nam đã trải qua một thời gian lâu dài hàng thế kỷ do sự đề kháng tất yếu của tự tình dân tộc như câu thơ dân gian của một sĩ phu miền Nam Đồ Chiểu: “Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn sáng mắt ông cha không thờ…”. Chúng ta hãnh diện tự hào với truyền thống yêu nước thương nòi mà trải qua gần 1 ngàn năm đô hộ kẻ thù truyền kiếp chủ trương Hán hóa thâm độc quỷ quyệt, người Việt vẫn giữ nguyên được bản sắc văn hóa truyền thống Việt.
Khi chữ Quốc ngữ ra đời, nhà cầm quyền thực dân Pháp đã tìm cách thúc đẩy sự truyền bá chữ quốc ngữ tại “Thuộc Địa Nam Kỳ” bằng cách đưa vào quy định bổ nhiệm, thăng tiến cho quan chức hay miễn thuế cho dân ở Nam Kỳ. Phó Đô Đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghi định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ nhưng đến năm 1879, thực dân Pháp mới chính thức đưa vào chương trình giáo dục ở Nam Kỳ. Thế nhưng, việc cổ động cho học “chữ Quốc ngữ” ở toàn cõi Việt Nam từ năm 1890 đến năm 1910 với các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và đến năm 1867 mới chính thức xuất hiện trên tờ Gia Định Báo của Nguyễn văn Vĩnh ở Sài Gòn cùng với Pétrus Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh đã cổ vũ học “chữ Quốc ngữ: Tiếng Việt còn, nước ta còn…”, như là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí. Đặc biệt Nam Phong Tạp Chí là một tờ Nguyệt san do Học giả Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút xuất bản đầu tiên ngày 1 tháng 7 năm 1917. Phạm Quỳnh chủ biên phần chữ Quốc ngữ và Dương Bá Trác phần chữ Nho, trong suốt 17 năm với 210 số báo, Nam Phong Tạp Chí đã góp phần vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ.
Công cuộc hoàn thiện chữ Quốc ngữ trở thành súc tích văn chương hơn phải ghi nhận sự đóng góp của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Sự ra đời của Tờ Phong Hóa và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành lập ngày 2-3-1934 quy tụ các nhà văn nổi tiếng trong văn đàn Việt Nam thời bấy giờ như Khái Hưng, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam cùng nhiều văn nghệ sĩ có tài khác như: Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận. Tự Lực Văn Đoàn chủ trương sáng tác văn chương với một một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam đã góp phần không nhỏ trong những tác phẩm văn học để chữ Quốc ngữ văn chương và phổ biến rộng rãi trên toàn quốc. Tự Lực Văn Đoàn đã thổi một luồng gió khai phóng vào xã hội Việt Nam thoát khỏi sự ràng buộc của những hủ tục lề thói lỗi thời, không còn thích ứng được với nhu cầu thời đại và tìm ra hướng đi mới cho văn học Việt Nam.
Ngày 25-5-1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập và phát động phong trào học chữ Quốc Ngữ trên toàn quốc do Nguyễn văn Tố làm Hội Trưởng, Bùi Kỷ và Tôn Thất Bình làm Hội Phó. Cố vấn gồm các học giả nổi tiếng là Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn văn Huyên và Lê Thước để truyền bá chữ Quốc ngữ trong quảng đại quần chúng. Học giả Hoàng Xuân Hãn đang dạy tại trường Bưởi (Chu văn An sau này) được mời làm cố vấn và giáo sư là người soạn quyển sách học đánh vần chữ Quốc ngữ đầu tiên mà ngày nay, một số người trong chúng ta vẫn còn thuộc nằm lòng những câu như “I tờ hai móc cả hai. I ngắn có chấm, tờ dài có ngang. O tròn như quả trứng gà. Ô thời đội mũ, ơ là thêm râu” và “huyền ngang, sắc dọc, nặng tròn; hỏi lom khom đứng, ngã buồn… nằm ngang”. “Hội Truyền bá quốc ngữ là một trường đào tạo, giáo dục thanh niên ngoài xã hội. Một mặt nó luyện cho thanh niên những đức tính cần thiết trong cuộc sống. Mặt khác, nó giúp thanh niên tránh được những cuộc vui chơi không lành mạnh cờ bạc, trai gái, rượu chè… và giáo dục lòng yêu nước thương nòi cho thanh niên thời bấy giờ.
Chính nhờ những đóng góp trên nên giới trẻ tân học, giới trí thức tiểu tư sản đã ý thức được lối học từ chương kinh điển lỗi thời cùng với lối chữ Nho rắc rối phức tạp, khó phổ biến tới toàn dân để nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí nên đã tiếp nhận và hoàn thiện chữ Quốc ngữ để kêu gọi lòng yêu nước của toàn dân đứng lên chống Thực dân Pháp.
Thưa quý vị,
Chữ Quốc ngữ thời mới hình thành rất là sơ sài đôi khi ngây ngô nữa chứ không phải súc tích, phong phú như ngày nay. Tiến trình hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ do chính người Việt là chủ thể của lối chữ này đã sửa đổi, thêm thắt, tìm kiếm, hoàn thiện từ Đức Chúa Bờ Lời thành Đức Chúa Trời như trong nguyên bản “Phép giảng tám ngày” như sau: “Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma beào đạo thánh Đức Chúa Blời”, mà bây giờ chúng ta sửa đổi hoàn chỉnh là “Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà theo đạo thánh Đức Chúa Trời”. Chính vì vậy chúng ta mới thấy rằng công phiên âm, ký tự chuyển từ tiếng Việt cổ sang lối chữ La Tinh là của các nhà truyền giáo nhưng để có một chữ viết gọi là Quốc Ngữ như ngày nay chính là của toàn dân Việt Nam chứ không phải là ai khác…
Thưa quý vị,
Trong lịch sử nhân loại không có một dân tộc nào trải qua những trang sử bi thảm như dân tộc Việt Nam với 26 lần xâm lược và 9 lần thống trị gần 1.000 năm của kẻ thù truyền kiếp Tàu Hán xưa và đế quốc mới Tàu Cộng bây giờ. Dân tộc Việt chưa thoát khỏi ách đô hộ của Thực dân Pháp thì tập đoàn Việt gian Cộng sản đã rước voi Mác Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn độc Tàu Cộng về cắn gà nhà dân tộc. Kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1858, quân Pháp tấn công Đà nẵng cho tới ngày 6-6-1884, hiệp ước Patenôtre được ký kết chính thức quy định Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ chịu sự bảo hộ của Pháp nhưng mỗi nơi có chế độ cai trị khác nhau.[3] Sử sách viết về thời Pháp đô hộ Việt Nam cũng như theo các nhân chứng sống thì tuy gọi là chế độ thực dân nhưng người dân vẫn còn đỡ khổ hơn “Người dân làm chủ” trong chế độ Cộng sản Việt Nam bây giờ. Lịch sử Việt vẫn còn ghi chép tội ác của thực dân Pháp xử chém 13 anh hùng dân tộc tại Yên Bái thế nhưng dưới bức màn sắt của Cộng sản, khi xâm chiếm miền Nam Cộng sản đã giết biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và chế độ Cộng sản độc tài đã đưa ra xử bắn trên 300 tù nhân chính trị tôn giáo trong đó có 2 linh mục, 2 phụ nữ độc ác nhất là xử tử hình anh thư Trần Thị Lan trong lúc chị có thai 8 tháng. Đây không chỉ là tội ác đối với dân tộc Việt mà còn là tội ác đối với cả nhân loại nữa.
Đọc lại những lời tuyên truyền tố cáo thực dân Pháp của Hồ Chí Minh, chúng ta ai cũng giật mình vì đó là những tội ác mà bạo quyền CS đang gây nợ máu với đồng bào chúng ta gấp cả trăm lần!!! Chúng ta cũng đau lòng khi viên trung úy Calley một người lính ngoại quốc bắn giết dân lành ở Mỹ Lai, chúng ta cũng có thể thông cảm phần nào khi Việt Cộng núp sau lưng những người dân này bắn giết các binh lính Hoa Kỳ nên viên Trung Úy đã nóng giận ra lệnh xả súng bắn gây ra những thương vong đáng tiếc… Thế nhưng không ai có thể ngờ được rằng Việt gian Cộng sản xâm lược đã đang tâm tàn sát dã man hàng trăm đồng bào máu mủ ruột rà ở Ấp Tân Lập Xuân Lộc tháng 3 năm 1975 mà nhà văn yêu nước Trần Đức Thạch đã viết lại trong “Hố Chôn Người ám ảnh…”…
Thưa quý vị,
Chúng ta chống lại chủ nghĩa thực dân nhưng cũng không quên tri ân những người ngoại quốc đã có công đóng góp bảo lưu nền văn hóa Việt. Thật vậy, nếu không có nhà bác học bà Madeleine Colani thì cả nhân loại không ai biết về nền văn hóa Hòa Bình lưu vực sông Hồng ngày nay được xem là nền văn hóa cổ nhất của nhân loại và từ nền văn hóa này, chúng ta mới tìm thấy cội nguồn của dân tộc Việt.
Chính nhà bác học Madeleine Colani của viện Viễn Đông Bác Cổ đã tìn thấy 2 chiếc đĩa cổ trong đó có 2 chữ Việt Cổ là chữ Sĩ và chữ Thương có niên đại khảo cổ là 8 ngàn năm nghĩa là cổ hơn 6 ngàn năm so với chữ viết “Văn Giáp Cốt” đời Thương 1766 TDL. Các nhà khảo cổ quốc tế cũng tìm thấy hơn 20 ký tự chữ viết cổ của nền văn hóa Long Sơn trong đó có các chữ Việt, chữ Đán… có niên đại khảo cổ hàng chục ngàn năm giống như chữ Sĩ và chữ Thượng vẫn còn sử dụng trong tiếng Hán hiện đại. Điều này chứng tỏ, Tộc du mục Thương Chu đã lấy chữ viết Việt cổ gọi là lối chữ vuông thêm thắt sửa đổi thành chữ Hán gọi là kim văn Hán tự. Sử sách triều Chu ghi rõ là đời Chu Tuyên Vương sai Thái sử Trứu lấy lối chữ Điểu triện thời Hoàng Đế sửa đổi biến cải thành lối chữ gọi là Kim văn tức chữ Hán bây giờ.[4] Theo các nhà ngôn ngữ thì Trung Quốc có 10 phương âm, đến thời Tần Thủy Hoàng diệt Nho đốt sách, bắt các nước đều phải nói và viết ngôn ngữ Quan Thoại… Ngoài ra, tất cả dân Trung Hoa đều nói tiếng Việt cổ gồm: Thục ngữ, Yên, Tề ngữ, Đông Di và Mạc Địch, Sở ngữ, Mân ngữ, Giang Hoài ngữ Ngô Việt ngữ, Điền, Kiềm ngữ và Việt ngữ ở Quảng Đông, Quảng Tây.
Chính nhờ những đóng góp trên nên giới trẻ tân học, giới trí thức tiểu tư sản đã ý thức được lối học từ chương kinh điển lỗi thời cùng với lối chữ Nho rắc rối phức tạp, khó phổ biến tới toàn dân để nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí nên đã tiếp nhận và hoàn thiện chữ Quốc ngữ để kêu gọi lòng yêu nước của toàn dân đứng lên chống Thực dân Pháp.
Thưa quý vị,
Chữ Quốc ngữ thời mới hình thành rất là sơ sài đôi khi ngây ngô nữa chứ không phải súc tích, phong phú như ngày nay. Tiến trình hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ do chính người Việt là chủ thể của lối chữ này đã sửa đổi, thêm thắt, tìm kiếm, hoàn thiện từ Đức Chúa Bờ Lời thành Đức Chúa Trời như trong nguyên bản “Phép giảng tám ngày” như sau: “Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma beào đạo thánh Đức Chúa Blời”, mà bây giờ chúng ta sửa đổi hoàn chỉnh là “Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà theo đạo thánh Đức Chúa Trời”. Chính vì vậy chúng ta mới thấy rằng công phiên âm, ký tự chuyển từ tiếng Việt cổ sang lối chữ La Tinh là của các nhà truyền giáo nhưng để có một chữ viết gọi là Quốc Ngữ như ngày nay chính là của toàn dân Việt Nam chứ không phải là ai khác…
Thưa quý vị,
Trong lịch sử nhân loại không có một dân tộc nào trải qua những trang sử bi thảm như dân tộc Việt Nam với 26 lần xâm lược và 9 lần thống trị gần 1.000 năm của kẻ thù truyền kiếp Tàu Hán xưa và đế quốc mới Tàu Cộng bây giờ. Dân tộc Việt chưa thoát khỏi ách đô hộ của Thực dân Pháp thì tập đoàn Việt gian Cộng sản đã rước voi Mác Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn độc Tàu Cộng về cắn gà nhà dân tộc. Kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1858, quân Pháp tấn công Đà nẵng cho tới ngày 6-6-1884, hiệp ước Patenôtre được ký kết chính thức quy định Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ chịu sự bảo hộ của Pháp nhưng mỗi nơi có chế độ cai trị khác nhau.[3] Sử sách viết về thời Pháp đô hộ Việt Nam cũng như theo các nhân chứng sống thì tuy gọi là chế độ thực dân nhưng người dân vẫn còn đỡ khổ hơn “Người dân làm chủ” trong chế độ Cộng sản Việt Nam bây giờ. Lịch sử Việt vẫn còn ghi chép tội ác của thực dân Pháp xử chém 13 anh hùng dân tộc tại Yên Bái thế nhưng dưới bức màn sắt của Cộng sản, khi xâm chiếm miền Nam Cộng sản đã giết biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và chế độ Cộng sản độc tài đã đưa ra xử bắn trên 300 tù nhân chính trị tôn giáo trong đó có 2 linh mục, 2 phụ nữ độc ác nhất là xử tử hình anh thư Trần Thị Lan trong lúc chị có thai 8 tháng. Đây không chỉ là tội ác đối với dân tộc Việt mà còn là tội ác đối với cả nhân loại nữa.
Đọc lại những lời tuyên truyền tố cáo thực dân Pháp của Hồ Chí Minh, chúng ta ai cũng giật mình vì đó là những tội ác mà bạo quyền CS đang gây nợ máu với đồng bào chúng ta gấp cả trăm lần!!! Chúng ta cũng đau lòng khi viên trung úy Calley một người lính ngoại quốc bắn giết dân lành ở Mỹ Lai, chúng ta cũng có thể thông cảm phần nào khi Việt Cộng núp sau lưng những người dân này bắn giết các binh lính Hoa Kỳ nên viên Trung Úy đã nóng giận ra lệnh xả súng bắn gây ra những thương vong đáng tiếc… Thế nhưng không ai có thể ngờ được rằng Việt gian Cộng sản xâm lược đã đang tâm tàn sát dã man hàng trăm đồng bào máu mủ ruột rà ở Ấp Tân Lập Xuân Lộc tháng 3 năm 1975 mà nhà văn yêu nước Trần Đức Thạch đã viết lại trong “Hố Chôn Người ám ảnh…”…
Thưa quý vị,
Chúng ta chống lại chủ nghĩa thực dân nhưng cũng không quên tri ân những người ngoại quốc đã có công đóng góp bảo lưu nền văn hóa Việt. Thật vậy, nếu không có nhà bác học bà Madeleine Colani thì cả nhân loại không ai biết về nền văn hóa Hòa Bình lưu vực sông Hồng ngày nay được xem là nền văn hóa cổ nhất của nhân loại và từ nền văn hóa này, chúng ta mới tìm thấy cội nguồn của dân tộc Việt.
Chính nhà bác học Madeleine Colani của viện Viễn Đông Bác Cổ đã tìn thấy 2 chiếc đĩa cổ trong đó có 2 chữ Việt Cổ là chữ Sĩ và chữ Thương có niên đại khảo cổ là 8 ngàn năm nghĩa là cổ hơn 6 ngàn năm so với chữ viết “Văn Giáp Cốt” đời Thương 1766 TDL. Các nhà khảo cổ quốc tế cũng tìm thấy hơn 20 ký tự chữ viết cổ của nền văn hóa Long Sơn trong đó có các chữ Việt, chữ Đán… có niên đại khảo cổ hàng chục ngàn năm giống như chữ Sĩ và chữ Thượng vẫn còn sử dụng trong tiếng Hán hiện đại. Điều này chứng tỏ, Tộc du mục Thương Chu đã lấy chữ viết Việt cổ gọi là lối chữ vuông thêm thắt sửa đổi thành chữ Hán gọi là kim văn Hán tự. Sử sách triều Chu ghi rõ là đời Chu Tuyên Vương sai Thái sử Trứu lấy lối chữ Điểu triện thời Hoàng Đế sửa đổi biến cải thành lối chữ gọi là Kim văn tức chữ Hán bây giờ.[4] Theo các nhà ngôn ngữ thì Trung Quốc có 10 phương âm, đến thời Tần Thủy Hoàng diệt Nho đốt sách, bắt các nước đều phải nói và viết ngôn ngữ Quan Thoại… Ngoài ra, tất cả dân Trung Hoa đều nói tiếng Việt cổ gồm: Thục ngữ, Yên, Tề ngữ, Đông Di và Mạc Địch, Sở ngữ, Mân ngữ, Giang Hoài ngữ Ngô Việt ngữ, Điền, Kiềm ngữ và Việt ngữ ở Quảng Đông, Quảng Tây.
Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy tiếng nói vùng Hoa Nam gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Triết Giang đều có âm Việt cổ chung hoàn toàn khác với phương ngữ Hán phương Bắc mà dân gian Hoa Nam vẫn dùng trong giao tiếp cuộc sống gọi là tiếng Nôm (Nam), tiếng của người Việt phương Nam. Tiếng Quan Thoại của giới quan lại thống trị từ thời Tần là Hán ngữ chính thống (Sino-Tibetan) mà giọng đọc gọi là Quan Thoại ở vùng Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và Nam Sơn Tây. Tần ngữ là giọng nói ở Thiểm Tây được coi là giọng cổ Quan Thoại phát âm lơ lớ Quan Thoại, lơ lớ Mông Cổ còn lại 8 phương âm khác của Di Việt ở khắp Trung Nguyên gồm:
– Thục ngữ ở Tứ Xuyên của chi Âu Việt.
– Yên Tề ngữ của chi Lạc Việt (bộ Trĩ) mà họ gọi là Rợ Đông Di gồm các tỉnh Sơn Đông và một phần Hà Bắc.
– Sở ngữ là giọng nói ở Hồ Bắc, Hồ Nam của chi Lạc Việt bộ Mã mà Hán tộc gọi là rợ Kinh man. Vào đầu kỷ nguyên Dương lịch, Yên-Tề-Sở ngữ giống Việt ngữ, Sở ngữ còn gọi chung là giọng Hồ Quảng.
– Mân ngữ (Hoklo) là giọng nói của chi Mân Việt (Min-Yueh) ở Phúc Kiến (Lạc bộ Mã).
– Việt ngữ vùng Quảng Đông và Quảng Tây của chi Âu Việt còn gọi là Tây Âu của đồng bào Thái (Thái Việt).
– Giang Hoài ngữ là giọng nói vùng giữa sông Hoài và Sông Dương Tử thuộc nước Ngô thời chiến quốc ở Bắc Giang Tô và Triết Giang của U -Việt còn gọi là Đông Việt.
– Điền Kiềm ngữ là giọng nói vùng Vân Nam và vùng phụ cận của chi Điền Việt.
– Ngô Việt ngữ.
Tuy gọi là các phương ngữ có chút ít biền biệt nhưng nói chung vẫn gần giống như Việt ngữ ở vùng lưỡng Quảng. Ngày nay chữ Quảng Đông vẫn gọi là Việt ngữ, kịch Quảng Đông và ở châu Kinh vẫn gọi là Việt kịch nên người Quảng Đông gọi sí phù phiên âm trước đây gọi là Hán Việt không đúng vì đó là tiếng Việt cổ, Việt ngữ nên chúng ta đọc là sư phụ, cú nường chúng ta viết là cô nương…
Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc dẫn chứng bản đồ “Tối Tân Trung Quốc Phân Tỉnh Đồ Bản” mới nhất của Trung Quốc thì tất cả các dân cư bản địa thời cổ ở Hoa Nam ngày xưa đều còn hiện diện trên lãnh thổ Trung Quốc. Bức bản đồ ngôn ngữ đầy đủ nhất “Ethnolinguistes groups of Mainland Southeast Asia” do Human Relations Area Files, Yale University xuất bản cho biết hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Quý Châu là địa bàn hiện nay của dân Thái tức người Âu Việt cổ. Mặt khác Tối tân Trung Quốc Phân Tỉnh Đồ còn cho biết là không hề có nhóm người Hán nào gọi là người Quảng Tây mà dân ở mấy tỉnh đó đều là người Quảng Đông còn gọi là người Việt Đông, là người Việt cổ và ngôn ngữ của dân Quảng Đông được gọi là Việt ngữ.[5]
Các triều đại Tàu Hán xưa bắt tất cả những người Trung Quốc trong đó người gọi là Trung Quốc ở Đông Bắc, người Trung Quốc ở miền Nam là người gốc Việt cổ bị bắt buộc “Đồng” giống như nhưng không “Hóa” thành người Trung Quốc vì có cùng một mã di truyền Genome DNA với chúng ta.
Ngày nay, đế quốc mới Trung Cộng thông qua tập đoàn tay sai Việt gian Cộng sản cầm đầu là Nguyễn Phú Trọng đã bắt học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 phải học tiếng Tàu Hán là sinh ngữ chính kể từ niên học tới đây. Đồng thời chúng còn đưa ra cái gọi là cải cách tiếng Việt viết và phát âm lơ lớ tiếng Tàu nhằm xóa bỏ lối chữ Quốc ngữ của chúng ta, để triệt tiêu văn hóa Việt. Đây là âm mưu “Hán hóa” thâm độc quỷ quyệt của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc chúng ta. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết chúng ta phải trân trọng bảo lưu chữ Quốc ngữ mà các giáo sĩ đã góp phần tạo ra lối chữ Quốc ngữ. Dù rằng mục đích là để truyền đạo đã tạo ra lối chữ viết theo a,b,c thế nhưng lối chữ này đã trở nên chữ viết chính thức của nước ta trong Văn Học Sử nước nhà. Chúng ta phải trân trọng tri ân các Giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Linh mục Alexandre De Rhodes cùng các thầy Raphael Quý, các thầy giảng Việt Nam Igesico Văn Tín, Bentô Thiện … và công sức của toàn dân Việt Nam đã hoàn chỉnh để ngày nay chúng ta có một ngôn ngữ phong phú, sinh động, một ngôn ngữ “nói như thơ nghe như nhạc” lên bổng xuống trầm đang được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên toàn thế giới.
Trân trọng kính chào toàn thể quý vị.
Phạm Trần Anh
Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018
TÂM TÌNH LỊCH SỬ
Mỗi dân tộc đều có những truyền
kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi
của mình. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy
đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của
truyền thống nhân đạo Việt Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của
nòi giống Việt. Đã là người Việt Nam thì từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm
tuổi, từ bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn,
không ai không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong
chúng ta mà không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của “Bố Lạc Mẹ
Âu” mở đầu thời kỳ lập quốc của dòng giống Việt.
Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn, là
truyền kỳ lịch sử Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất
dựa trên sự thật lịch sử được hư cấu như một huyền tích trong đó đề cao con
người với ý nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng một
triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân
văn, mà còn tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “Bọc điều
trăm trứng nở trăm con”.
Từ ý niệm đồng bào dẫn đến lòng yêu nước,
thương nòi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống
của nền văn minh đạo đức Việt Nam. Henri Bernard Maitre một nhà Việt Nam Học đã
ca tụng nét đẹp văn hiến của Việt tộc qua đền thờ Văn Miếu: “Văn Miếu không phải để cầu kinh hay làm bùa
phép mà là nơi trang trọng ghi ơn các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá,
các vị Tiến sĩ với những chuẩn mực đạo đức để con cháu đời sau ghi sâu vào tâm
khảm bài học về đạo làm người Việt Nam, xứng đáng với hoài bão của Tiền Nhân”.
Đối với người Việt, việc thờ cúng Ông bà
Tiên tổ là đạo lý làm người trong đời sống tâm linh của người Việt. Từ xa xưa
người Việt coi trọng đạo nghĩa nên thường nghĩ tới ngày giỗ của người thân hơn
là chú trọng đến ngày “sinh nhật” của mình. Ngày nay, dù giới trẻ quan tâm
nhiều đến ngày sinh nhật nhưng cũng không quên những ngày cúng giỗ người thân
trong gia đình. Đạo thờ cúng ông bà là một “Việt đạo” thể hiện đạo lý làm người
Việt Nam. Linh mục Cadière một thừa sai ngoại quốc đến Việt Nam truyền giáo
phải thốt lên “Việt Nam là một dân tộc có
tinh thần tôn giáo cao độ”. Học giả P. Mus nghiên cứu về Việt Nam cũng thừa
nhận rằng “Dân tộc Việt có một đời sống
tâm linh cao, người Việt không làm việc, họ tế tự”.
Thật vậy, người ngoại quốc ngạc nhiên khi
thấy “Mỗi gia đình Việt Nam là một nhà
thờ, nhà nào cũng có bàn thờ gia Tiên ở chính giữa nhà. Trong đời sống tâm linh
Việt, Nhất cử nhất động, việc gì cũng tràn đầy tính chất thiêng liêng, thờ
phượng, tế lễ, cúng giỗ với tất cả tấm lòng chí thành”. Đây chính là điểm
đặc thù độc đáo thấm đậm bản sắc dân tộc, tràn đầy vẻ nhân văn của triết lý văn
hoá nhân chủ Việt Nam. Trong đời sống tâm linh Việt không chỉ hiển hiện ở bàn
thờ Gia Tiên mà đền thờ ngự trong tâm thức mỗi người.“Người Việt không tham dự vào các buổi lễ để được ban phát ân sủng, mà
họ hiệp thông cầu nguyện như một người “Tư Tế” với tất cả tính chất thiêng
liêng của một tôn giáo”. Điều này thể hiện giá trị cao đẹp đặc trưng đời
sống tâm linh của người Việt cổ.
Thờ cúng tổ tiên chính là đạo lý làm người,
là dòng sống tâm linh thiêng liêng cao cả truyền từ đời này sang đời khác.
Chính dòng sống tâm linh này đã góp phần bảo tồn dòng giống Việt. Truyền thống
thờ cúng ông bà không còn là một tập tục, một tín ngưỡng đơn thuần mà đã trở
thành đạo lý của dân tộc. Thờ cúng ông bà được xem như Tổ Tiên chính giáo của
đạo làm người Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu một sĩ phu yêu nước thế kỷ XIX đã
ân cần nhắc nhở “Thà đui mà giữ đạo nhà,
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Người Việt Nam ai cũng biết uống nước
phải nhớ nguồn vì “Công cha như núi Thái
Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn
đạo hiếu mới là đạo con ..!” và “ Ơn
cha mẹ thề không lỗi đạo, Thờ sống sao thờ thác làm vầy. Công cha nghĩa mẹ xưa
nay, Con nguyền ghi nhớ thảo ngay một lòng”.
Đây chính là điểm độc đáo của dòng sống tâm
linh Việt vẫn tiếp nối truyền lưu trong mỗi con người Việt Nam chúng ta hôm nay
và mãi mãi về sau. Thật vậy bên cạnh đời sống thực tế khổ đau trước mắt, vẫn
hiển hiện một đời sống tâm linh sâu thẳm, thấm đậm tính nhân bản hiện thực cao
đẹp. Chính dòng sống tâm linh đó đã tạo cho mỗi người Việt Nam một quan niệm
sống lạc quan yêu đời, an nhiên tự tại nhưng vẫn sẵn sàng hy sinh mạng sống cho
nền độc lập thực sự, quyền tự do thực sự và sự ấm no hạnh phúc thực sự cho toàn
dân Việt Nam.
Lịch sử Việt là lịch sử của sự
thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay với gần một ngàn năm đô hộ của giặc
Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch chủ nghỉa vô
thần, Hán hóa dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu
thế của một nước lớn đất rộng người đông cùng với những thủ đoạn thâm độc quỷ
quyệt xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau
chỉ biết tìm về lịch sử trong cái gọi là “chính sử” hỗn độn mơ hồ.
Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ
tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề
của gần một ngàn năm nô dịch văn hóa nên từ trước tới nay, chúng ta chấp nhận
tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng, lịch sử vẫn là
lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân
lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Bước sang thiên
niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn
năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng.
Trước đây, nhân loại cứ tưởng tất cả nền
văn minh Tây phương là của Hy Lạp La Mã, để rồi sau đó lại cho là nền văn minh
đó đến từ nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại
lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền
văn minh của đại chủng Bách Việt. Vấn đề
đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật
của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù
truyền kiếp của dân tộc.
Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một
dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm
lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán
tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn
Trung nguyên Trung Quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại phần đất Việt Nam bây
giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938
của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc.
Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung
nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất
nước và con người Hán tộc để hình thành “Cái gọi là văn minh Trung Quốc”. Chính
sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là:
“Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi
đã có đại công đức với muôn dân vậy …”.[1]
Vạn thế sư biểu, Người Thầy muôn đời của
Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của
nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như
sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo
hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ứng
xử như vậy..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông
pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường bạo
hành động như thế…”.[2]
Trong kinh “Xuân Thu”,
Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp
vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa
… Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man mạnh được yếu thua, bất kể
tình người, bất kể luân lý đạo đức. Thế mà sách sử Trung Quốc vẫn miệt thị Việt
tộc là man di, các Thứ Sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi
Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu. Chính
“Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử đã phải đem những nghiên cứu, sưu
tập, học hỏi tinh hoa của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những
tôn ti trật tự, những giá trị đạo lý cho xã hội Trung Quốc.
Tất cả năm bộ Kinh Điển, “Ngũ Kinh” được
xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại
“Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do
ông sáng tác ra. Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu
đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc, từ nền văn minh
nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu
thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất
cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của
triều Hán đã phải thừa nhận như sau: “Giao
Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan,
nhân tài kiệt xuất ...”.
Bước sang thế kỷ XX, dân tộc Việt chưa tháo
gỡ được cái ách thống trị của thực dân Pháp thì chủ nghĩa cộng sản đã tràn vào
Việt Nam đưa dân tộc Việt vào thế khốn cùng. Cộng sản Việt Nam đã núp dưới
chiêu bài giải phóng dân tộc để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, tạo cơ hội cho
tư bản nhân danh thế giới tự do phải ngăn chặn làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á.
Hậu quả là hàng triệu người đã phải hi sinh oan uổng để rồi gần chín mươi triệu
đồng bào đang phải sống dở chết dở dưới chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân của
tập đoàn Việt gian Cộng sản, những tên “Thái Thú xác Việt hồn Tàu” bất nhân hại
dân bán nước.
Với chủ trương nô dịch của cộng sản, biết
bao thế hệ Việt Nam bị nhồi nhét nền văn hóa Mác-Lê phi nhân tàn bạo mà hậu qủa
là tạo ra những cỗ máy vô hồn, những con người vô cảm lạnh lùng, mất gốc. Trong
khi đó, gần 4 triệu đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng sản trên khắp thế giới nên
thế hệ con em chúng ta ở hải ngoại phần nào bị ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai
mang tính thực dụng, quên đi bản sắc văn hóa truyền thống Việt chan chứa tình
người.
Chính vì vậy, vấn đề hết sức khẩn thiết là
làm sao phải phục hoạt văn hóa Việt, phục hưng minh triết Việt để tẩy rửa mọi ý
hệ ngoại lai, mọi ý đồ truyền bá văn hóa “Trung Quốc” đang được “những tên Thái
thú mới”, “xác Việt hồn Tàu” đang thi hành mệnh lệnh của quan thầy Trung Cộng
ra sức nhồi sọ dân tộc Việt. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết việc tìm hiểu về
huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam với nền văn minh Việt cổ là
một yêu cầu lịch sử hết sức cần thiết.
Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền
nhân, chúng ta phải làm gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh
linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải
ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi
để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm dòng
giống Lạc Hồng. Chúng ta hãnh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng
lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên
niên kỷ thứ ba của nhân loại.
Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi
thúc lòng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ
trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Đại Việt Nam: “Cách
Mạng Hóa-Hiện Đại Hóa Việt Nam”. Điều kiện khách quan của lịch sử đã tạo cho
dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh
vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.
Thế kỷ 20, chúng ta có bộ Việt Nam Sử Lược
của sử gia Trần Trọng Kim và Lịch Sử Việt Nam Thời Thượng Cổ-Việt Nam, Đất Nước
Con Người của sử gia Đào Duy Anh. Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bực của khoa
học, đặc biệt là Khoa Di Truyền học và khoa Đại Dương học đã cung cấp cho chúng
ta những kết quả khoa học thuyết phục nhất về nguồn gốc dân tộc. Các công trình
nghiên cứu về ngôn ngữ học đã góp phần phục hồi sự thật lịch sử về cội nguồn
văn hóa Việt, văn minh Việt mà chúng ta, những con dân đất Việt phải trân trọng
bảo lưu bản sắc văn hóa truyền thống Việt, một dân tộc có gần năm ngàn năm văn
hiến.
Trong ý hướng đó, chúng tôi cố gắng tóm
lược lịch sử Việt từ thời lập quốc cho đến ngày nay trong tác phẩm “Lược Sử
Việt Nam” để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu rõ tường tận lịch sử nước nhà.
Khi thế hệ con em chúng ta hiểu rõ về bản
sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt,
về những lễ tết, hội hè đình đám của dân tộc Việt thì thế hệ con em chúng ta sẽ
thấy rõ hơn giá trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt. Con
em chúng ta có quyền tự hào là “con Rồng cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử
lâu đời như danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã
tuyên xưng: “Chỉ nước Đại Việt ta từ trước, mới có
nền văn hiến ngàn năm”.
Tổ Quốc Việt Nam
Trường Tồn
Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt
Việt Nam Muôn Năm
Mùa Giỗ Tổ 4.893 Việt
Lịch (2014 DL)
PHẠM TRẦN ANH
[1] Âu Đại Nhậm:
Bách Việt Tiên Hiền Chí. Bản dịch của Trần Lam Giang, TTVHVN trang 17.
[2] Tử lộ vấn cường. Tử
viết “Nam phương chi cường dư? Bắc phương chi cường dư? Ức chi cường dư?
Khoan
nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam phương chi cường dã, quân tử cư chi. Nhậm kim
cách, tử nhi bất yếm, Bắc phương chi cường dã, nhi cường dã cư chi. Cố quân tử hòa nhi bất lưu: Cường tai
kiểu, trung lập nhi bất ỷ cường tai
kiểu. Quốc hữu đạo bất biến tắc yên, cường tai kiểu. Quốc vô đạo,chi tử bất
biến, cường tai kiểu”. Tử Lộ hỏi về sức mạnh, Khổng Tử nói: “Là cái cương cường
của người phương Nam ư? Hay là nói cái cương cường của người phương Bắc? Hay là
nói cái cương cường của riêng ngươi?
Dạy
bảo người ta một cách khoan dung, không trả thù kẻ vô đạo, đó là cái cương
cường của người phương Nam, người quân tử giữ sự cương cường đó… Còn cứng như
sắt thép, dẫu chết cũng không sợ, đó là cái cương cường của người phương Bắc,
những kẻ thượng võ hiếu đấu thì giữ sự cương cường này. Người quân tử sống hòa
mục với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục, đấy mới là sự cương
cường chân chính”.
LỜI NÓI ĐẦU
Nhà Xuất Bản Việt Nam Ngày Mai hân hạnh giới
thiệu Bộ Lịch Sử Việt Nam, một công trình nghiên cứu giá trị của nhà Biên Khảo
Phạm Trần Anh. Từ trước đến nay chúng ta
chưa có một bộ lịch sử viết trên sử quan dân tộc với những chứng cớ khoa học
thuyết phục về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Những điều chúng ta biết về lịch sử
Việt Nam qua bộ Việt Nam Sử Lược của sử gia Trần Trọng Kim là những tri thức lịch
sử thế kỷ 20, cũng như những sách sử thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa viết theo
nghị quyết của đảng Cộng sản với sử quan duy vật nhằm mục đích tuyên truyền nên
không đáp ứng được nhu cầu tri thức của thời đại.
Chúng tôi xin mượn lời của giáo sư, nhà
văn Quyên Di thay lời giới thiệu cho bộ
lịch sử công phu này:
“Khi tiến hành việc giảng dạy lớp
“Vietnamese-American Experience” thuộc phân khoa “Asian and Asian-American
Studies,” đại học California State University, Long Beach và lớp “Culture and
Education of Vietnamese Students” trong chương trình Sư Phạm Song Ngữ của đại học
California State University, Fullerton, tôi gặp trở ngại không nhỏ về sách giáo
khoa và tài liệu tham khảo. Bài giảng cho những lớp này có nhiều phần đề cập đến
con người, văn hoá, lịch sử và chiến tranh Việt Nam. Những tài liệu về các vấn
đề này không phải là không có, nhưng hời hợt hoặc được viết theo thiên kiến nên
thiếu phần chính xác.
Hai năm trước, tôi may mắn có trong tay bộ
sách “Việt Nam Nước Tôi” và “History of Vietnam” của nhà biên khảo Phạm Trần
Anh. Vừa thoáng đọc phần mục lục, tôi đã nhận ra đây là những tài liệu rất quý
báu mà tôi có thể dùng để tham khảo và giảng dạy. Bộ sách “Việt Nam Nước Tôi”
dày ngót 650 trang, chứa đựng một khối tri thức lớn lao về đất nước, con người
và lịch sử Việt Nam, đã khiến tôi rất kinh ngạc và thán phục tác giả.
Ấn bản
Anh ngữ “History of Vietnam” và một bộ sử Việt Nam rút gọn nhưng đầy đủ các
niên đại lịch sử và các chi tiết quan trọng về con người, đất nước Việt Nam,
các giai đoạn lập quốc và chiến đấu chống ngoại xâm. Điều quan trọng là cuốn
sách này nói lên một cách rõ ràng và hùng hồn về tính nhân bản của con người Việt
Nam. Đặc biệt, tất cả các cước chú được ghi rất rõ ràng và có tính khoa học giúp độc
giả tham khảo thêm các nguồn sử liệu. Tôi đã so sánh
hai tập sách “Việt Nam Nước Tôi” và “History of Vietnam” với nhiều sách vở, tài
liệu cùng một chủ đề đã từng được xuất bản trước đây. Kết quả của việc so sánh
này là tôi nhận thấy hai tập sách này đã nổi bật về lượng tri thức, sự chính
xác, tính khoa học và niềm cảm hứng gây ra trong lòng người đọc. Vì thế tôi đã
quyết định dùng hai cuốn sách này làm “tài liệu tham khảo bắt buộc” cho các
sinh viên.
Một sinh viên người Mỹ gốc Việt chia sẻ với
tôi rằng chính hai cuốn sách này đã giúp cô có niềm hãnh diện về nguồn gốc Việt
Nam của mình. Cô cũng cho biết trước đây cô thường mặc cảm về nguồn gốc Việt
Nam và cảm thấy mình thua kém các bạn học gốc Trung Hoa, Đại Hàn hay Nhật Bản.
Điểm đặc biệt là chính lớp “Vietnamese-American Experience” cũng như hai cuốn
sách “Việt Nam Nước Tôi” và “History of Vietnam” đã khiến cô quyết định chuyển
ngành học, từ ngành Sinh-Hoá sang ngành Asian Studies.
Một sinh viên Mỹ đã chia sẻ trước các bạn
cùng lớp rằng sau khi đọc hai cuốn sách này, anh khâm phục con người Việt Nam.
Từ đó, anh nhìn các bạn gốc Việt với một cái nhìn hoàn toàn khác trước đây, vì
anh biết trong thể xác con người Việt Nam nhỏ bé ấy tiềm tàng một sức mạnh phi
thường.
Thay mặt các sinh viên của tôi, chúng tôi xin
chân thành cám ơn nhà biên khảo, sử gia
Phạm Trần Anh đã cống hiến cho chúng ta những công trình nghiên cứu quan trọng
và quý báu này.
Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm hết sức
giá trị này đến các bạn trẻ thanh niên, sinh viên Việt Nam chúng ta”.
NHÀ XUẤT BẢN VIỆT NAM NGÀY MAI
“Chúng
ta đều do Tổ Tiên sinh ra, không cứ là trai gái già trẻ, không cứ là chi tộc
nào, dòng họ nào. Mọi người đều là CON RỒNG CHÁU TIÊN, từ một bào thai của mẹ
Âu nên tất cả đều từ một mẹ sinh ra các ngành các chi mà thôi.
Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước có nghìn dòng sông, muôn ngọn
suối, vốn có gốc từ một ngọn nguồn. Cảnh vật còn như vậy, huống chi là con người
chúng ta. Con người sinh ra đời, đời đời nối tiếp về sau, đều do các người đời
trước nuôi nấng dìu dắt vậy.
Ngưỡng mộ và tưởng nhớ Tổ Tiên, chúng ta hãy lấy việc siêng năng mà bồi
đắp cho gốc rễ. Lấy sự cần kiệm làm răn rồi tu nhân tích đức, giàu lòng thương
người hơn là chê bai ghen ghét người. Là con cháu thì chúng ta phải nối tiếp
truyền thống của Tổ Tiên, chứ lẽ nào con cháu mà lại không suy nghĩ về ý nghĩa
thâm trầm cao đẹp nói trên hay sao?”.
HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG
(Nói
chuyện với các bô lão làng Vân Nội)
BÁCH
VIỆT TỪ ĐƯỜNG TỘC PHẢ
Chú
giải của La Sơn Phu Tử
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



